Bài 1: Nhu cầu lớn lệ thuộc nhiều

Lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu để sản xuất thức ăn là một trong những thách thức mà ngành chăn nuôi đang phải đối mặt. Giảm dần sự lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, tiến tới tự chủ nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành là một kỳ vọng của nền nông nghiệp nước ta.Nhu cầu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi ngày một tăng, trong khi hiện nay có tới 70% nguồn nguyên liệu đó chúng ta đang phải nhập khẩu.

Chăn nuôi càng phát triển…

Trong 10 năm gần đây, chăn nuôi nước ta phát triển mạnh, với tốc độ tăng trưởng 6%/năm. Theo thống kê của Phòng Thức ăn chăn nuôi (Cục Chăn nuôi – Bộ NN&PTNT), giai đoạn 2002 – 2011, mức tăng trưởng trung bình của sản lượng toàn ngành thức ăn chăn nuôi công nghiệp đạt khoảng 13,5%/năm. Mức tăng trưởng này là một minh chứng đáng mừng cho sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi công nghiệp nói riêng của nước ta.


Nhu cầu thức ăn chăn nuôi ngày một tăng.

Nhờ sự tăng trưởng đó mà sản lượng thực phẩm tăng lên, đáp ứng nhu cầu thiết yếu ngày càng cao của xã hội. Hiện nay, đàn lợn đã đạt 28,5 triệu con; đàn gia cầm đạt 350 triệu con và đàn trâu bò đạt 9,5 triệu con.

Để đạt mục tiêu và yêu cầu của ngành chăn nuôi giai đoạn 2012- 2020 như chiến lược đã được Chính phủ phê duyệt, hướng đến chăn nuôi để xuất khẩu thì việc giải bài toán chủ động nguyên liệu trong sản xuất thức ăn chăn nuôi là hết sức cần thiết. Hiện nay, Chính phủ cũng đã có một số chính sách đối với ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước. Đó là: ưu tiên đầu tư, hỗ trợ vốn, bình ổn giá, khuyến khích áp dụng và phát triển công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi nói chung và sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp.

Tuy nhiên, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp của nước ta còn rất nhiều khó khăn, tồn tại và thách thức khiến các nhà quản lý lẫn doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đau đầu. Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết: Khó khăn lớn nhất của ngành là sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu tại chỗ để sản xuất.

… nguyên liệu trong nước ngày càng thiếu

Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước ta hiện chủ yếu là ngô, sắn, đậu tương. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cung ứng của nguồn này cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước. Cụ thể, với ngô và sắn, diện tích trồng khó mở rộng thêm. Còn với đậu tương, năng suất thấp, không có quỹ đất chuyên canh; diện tích vụ đông khó mở rộng do giá lao động nông thôn tăng cao.

Chính vì vậy, nhiều năm qua, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước ta phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Theo Cục Chăn nuôi, năm 2011, nước ta nhập khẩu xấp xỉ 8,9 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, tăng 3 lần so với năm 2006. Trong đó, nhóm thức ăn giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ, cám mỳ là 3,86 triệu tấn (chiếm khoảng 43%); thức ăn giàu đạm như đỗ tương, khô dầu các loại, bột cá, bột thịt xương… chiếm gần 5 triệu tấn (khoảng 54%); thức ăn bổ sung khoảng 0,2 triệu tấn (chiếm 3%). Riêng 8 tháng đầu năm 2012 cả nước đã nhập 1,1 triệu tấn ngô và 1,8 triệu tấn lúa mỳ.

Bộ NN&PTNT tính toán, để đáp ứng được chiến lược phát triển chăn nuôi, đến năm 2020, nhu cầu sử dụng thức ăn của Việt Nam ước tính là 27,4 triệu tấn (tăng 1,3 lần so với năm 2012). Như vậy, với năng lực đáp ứng hiện nay, chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là các loại giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ, khô dầu.

Điều này làm tăng giá thành chăn nuôi, cộng thêm việc khó kiểm soát về chất lượng và nhiều khó khăn phát sinh khác. Cụ thể, việc nhập nguyên liệu nhiều sẽ làm cho giá thức ăn chăn nuôi trong nước bị lệ thuộc vào thị trường thế giới. Mà hiện nay, giá các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu đang ngày một tăng, do tình hình chung trên thế giới là nhu cầu lương thực tăng cao. Bên cạnh đó, một lượng đáng kể ngũ cốc trên thế giới được dùng để sản xuất năng lượng sinh học. Trong khi, do giới hạn của việc mở rộng diện tích, ảnh hưởng của thời tiết và khí hậu diễn biến thất thường nên sản lượng của ngô, đậu tương và lúa mỳ khó tăng lên.

Chẳng hạn, theo một số tài liệu tham khảo, từ cuối tháng 10/2010 đến tháng 2/2012, giá ngô trong nước đã tăng khoảng 2.500 đồng/kg. Dự kiến thời gian tới, giá ngô thế giới còn tiếp tục tăng, có thể lên đến 8.000 đồng/kg.

“Thật là một thảm họa nếu ngành thức ăn chăn nuôi cứ bị chi phối bởi nguyên liệu nhập khẩu. Do đó, việc khai thác nguồn nguyên liệu trong nước để chủ động sản xuất và cung cấp thức ăn cho chăn nuôi đang là một yêu cầu cấp thiết”, GS Vũ Duy Giảng, Đại học Nông nghiệp Hà Nội bày tỏ ý kiến.

Mạnh Minh

Bài 2: Không nên quá lo ngại về việc nhập nguyên liệu

Theo TS. Trần Quốc Việt (Viện Chăn nuôi – Bộ NN&PTNT), với nhu cầu ngày càng tăng, việc nhập khẩu nguyên liệu là dễ hiểu và không nên quá lo ngại. Tuy nhiên, lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu là không tốt. Sử dụng thóc và các sản phẩm từ thóc có thể sẽ là một giải pháp để giảm nhập khẩu các nguyên liệu.

´Thưa ông, có nhiều ý kiến cho rằng việc lệ thuộc vào các nguồn nguyên liệu nhập ngoại có thể gây ra rất nhiều hệ lụy đối với ngành chăn nuôi nước nhà. Chẳng hạn như những nguy cơ tiềm ẩn trong nguồn nguyên liệu nhập khẩu có thể dẫn đến ảnh hưởng xấu về chất lượng sản phẩm chăn nuôi, trong khi việc kiểm tra nguồn nguyên liệu nhập khẩu này còn gặp rất nhiều hạn chế. Ông có suy nghĩ gì về nhận định này?

Việc lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu là không tốt. Tất nhiên, trên thế giới, rất nhiều nước lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất thức ăn chăn nuôi như Thái Lan, Philíppin, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế thế giới, việc buôn bán trao đổi nguyên liệu thức ăn với các nước là hoàn toàn bình thường, không có lý do gì để lo ngại chuyện đó.

Cũng không có nguy cơ tiềm ẩn gì trong nguồn nguyên liệu nhập khẩu, vì chúng ta đã có cả một hệ thống kiểm tra, đánh giá chất lượng và hệ thống quản lý khá tốt về nhập và sử dụng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.

Tuy nhiên, chúng ta có thể nghĩ đến việc thay vì phải nhập khẩu ngô và lúa mỳ, nên sử dụng thóc và các sản phẩm từ thóc sẵn có để làm thức ăn chăn nuôi. Việt Nam là nước nông nghiệp với diện tích trên 7,6 triệu ha lúa ba vụ và riêng năm 2011, sản lượng lúa của nước ta đạt trên 42 triệu tấn. Nếu tình hình xuất khẩu gạo trong những năm tới gặp nhiều khó khăn, thì ta sẽ có một lượng đáng kể thóc và các sản phẩm từ thóc có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng thóc và các sản phẩm từ thóc làm thức ăn chăn nuôi ở nước ta vẫn rất khiêm tốn. Trong khi đó mỗi năm ta phải nhập một lượng không nhỏ (gần 4 triệu tấn) các nguyên liệu thức ăn giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ để làm thức ăn chăn nuôi.

´Vậy nguyên nhân nào khiến việc sử dụng thóc và các sản phẩm từ thóc làm thức ăn chăn nuôi chưa nhiều, thưa ông?

Các sản phẩm từ thóc như tấm, gạo lật đều có giá trị nuôi dưỡng đối với vật nuôi (xét cả về độ ngon miệng và giá trị dinh dưỡng) không thua kém so với ngô và lúa mỳ. Bởi vậy, không có trở ngại gì về mặt kỹ thuật khi sử dụng các nguyên liệu này để thay thế ngô và lúa mỳ làm thức ăn chăn nuôi.

Tuy nhiên, về khía cạnh kinh tế, tính cạnh tranh trong sử dụng một nguyên liệu nào đó trong sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc vào giá trị tính bằng tiền cho một đơn vị dinh dưỡng (năng lượng, protein, axit amin…). Khi giá thóc và các sản phẩm từ thóc có lợi thế hơn so với ngô và lúa mỳ nhập khẩu, thì việc sử dụng thóc và các sản phẩm từ thóc là hoàn toàn khả thi.

Nhưng trên thực tế, trong những năm qua và cả thời điểm hiện nay, giá thóc vẫn rất bất lợi, giá trị tính bằng tiền cho 1 đơn vị năng lượng trao đổi (cho lợn và gia cầm) của thóc cao hơn so với ngô và lúa mỳ từ 30 đến 32%. Đó là lý do chủ yếu khiến trong sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, thóc và các sản phẩm từ thóc như tấm, gạo lật được sử dụng với số lượng rất ít.

´Vậy theo ông, làm thế nào để tận dụng lợi thế là một quốc gia sản xuất nhiều lúa gạo để từ đó tăng sử dụng thóc làm thức ăn chăn nuôi?

Trong thời gian tới, lượng thóc và các sản phẩm từ thóc được sử dụng cho chăn nuôi nhiều hay ít phụ thuộc vào các biện pháp giảm giá thóc, sao cho giá thóc và các sản phẩm từ thóc cạnh tranh được với giá ngô và lúa mỳ nhập khẩu.

Có nhiều cách để giảm giá thóc và các sản phẩm từ thóc, nhưng chung quy lại có hai nhóm giải pháp: Một là nhóm giải pháp mang tính kỹ thuật (tạo ra các giống lúa lai năng suất và sản lượng cao, cải tiến kỹ thuật canh tác, giảm thất thoát sau thu hoạch). Nhóm giải pháp thứ hai là về cơ chế, chính sách, trong đó có việc quy hoạch vùng chuyên canh sản xuất thóc và các sản phẩm từ thóc làm thức ăn chăn nuôi. Bên cạnh đó là hỗ trợ người trồng lúa về vốn để sản xuất thóc hàng hóa làm thức ăn chăn nuôi và đặc biệt là hỗ trợ về chính sách tín dụng cho người chăn nuôi và các nhà sản xuất thức ăn để họ tiếp cận được với nguồn thóc và các sản phẩm từ thóc với giá rẻ.

Xin cảm ơn ông!

Mạnh Minh (thực hiện)

Bài cuối: Hướng dần đến tự chủ

Cùng với phương án thay thế dần ngô, lúa mỳ bằng lúa, gạo để từng bước giảm nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đang tính đến, nhiều chuyên gia cũng cho rằng cần linh hoạt nhiều biện pháp để hướng dần đến tự chủ nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cân nhắc khai thác lợi thế từ lúa, gạo

Chủ động sản xuất và cung cấp thức ăn cho chăn nuôi từ việc tối ưu hóa nguồn nguyên liệu trong nước chính là đòi hỏi hiện nay, nếu muốn ngành chăn nuôi phát triển bền vững. Một trong những giải pháp quan trọng là sử dụng thóc, gạo và phụ phẩm của ngành chế biến thóc để thay thế cho ngô, lúa mỳ và một số nguyên liệu nhập khẩu. Theo GS. Vũ Duy Giảng, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, thật là một nghịch lý khi Việt Nam là một nước nông nghiệp, kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm đạt 3,7 tỷ USD nhưng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lại gần bằng con số này, 3 tỷ USD.

Các nhà khoa học đều chung nhận định, xét về mặt dinh dưỡng và về mặt giá cả, thóc gạo hoàn toàn khả thi trong việc thay thế ngô hay hạt mỳ trong khẩu phần thức ăn cho lợn và gia cầm. Hàm lượng protein trong gạo lật là 9%, cám gạo là 12% có thể so sánh được so với ngô (10%) và lúa mỳ (12%).

Tuy vậy, GS.TS Từ Quang Hiển (Đại học Thái Nguyên) cho rằng, việc sử dụng gạo thay thế ngô trong thức ăn chăn nuôi là được và tốt nếu bổ sung thêm một số chất dinh dưỡng mà gạo còn thiếu so với ngô như: protein thô, threonin, sắc tố, đồng thời giá thóc phải không vượt quá 5.500 đồng/kg.

Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra hiện nay là giá thành gạo lật đã được xay xát và vận chuyển khoảng 7.600 đồng/kg, trong khi giá ngô khoảng 7.300 đồng/kg. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng nguyên liệu lúa gạo sẵn có trong nước sản xuất thức ăn chăn nuôi, cần có biện pháp giảm giá thành sản xuất lúa. “Nếu xét về hiệu quả và chi phí, sử dụng thóc gạo sẽ không có lợi bằng ngô và lúa mì, kể cả về mặt dinh dưỡng cũng như giá thành. Nhưng nếu cân nhắc sử dụng loại nguyên liệu này, cần có sự quản lý chặt chẽ về năng suất và cạnh tranh về giá thành”, ông Lê Văn Dũng, Giám đốc Phát triển sản phẩm của Tập đoàn Cargill nói.

Cần nhiều chính sách khuyến khích

Nhiều khuyến nghị đã được các nhà khoa học, doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đưa ra. Theo GS.TS Từ Quang Hiển, để sử dụng gạo thay thế ngô làm thức ăn chăn nuôi lâu dài cần phải chọn và sản xuất các giống lúa có năng suất cao, đòi hỏi thâm canh không cao nhằm hạ giá thành thóc sử dụng cho chăn nuôi. Bên cạnh đó, cần thay đổi công nghệ và thiết bị xay xát để sản xuất gạo lật phục vụ chăn nuôi; yêu cầu các cơ sở sản xuất thức ăn hỗn hợp bổ sung đầy đủ các chất mà gạo thiếu so với ngô; phát triển ngành sản xuất bột lá thực vật giàu sắc tố (bột lá sắn, keo giậu…) nhằm giảm nhập sắc tố tổng hợp từ nước ngoài. “Việc này vừa có ý nghĩa phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, vừa làm tăng hiệu quả chăn nuôi, lại bảo đảm an toàn thực phẩm”, GS. Từ Quang Hiển khẳng định.

Ông Phạm Đồng Quảng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, trong thời gian tới, bên cạnh sản xuất lúa hàng hóa cho xuất khẩu, cần quy hoạch vùng sản xuất lúa dùng cho thức ăn chăn nuôi. Trong đó nghiên cứu, chọn tạo, gieo trồng các giống lúa có năng suất cao, chất lượng trung bình và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để giảm giá thành lúa gạo.

Bên cạnh đó, theo đại diện Cục Chăn nuôi, để thực hiện giải pháp giảm giá thóc, gạo và hạn chế nhập ngô và lúa mỳ thì trước mắt, Nhà nước cần có hỗ trợ vốn và kỹ thuật cho người trồng lúa nếu họ gieo trồng những giống có năng suất cao và khi bán trực tiếp cho các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi thì họ được bù giá. Với các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, nên ưu tiên cho họ vay vốn và được hưởng lãi suất ưu đãi để mua thóc gạo trong mùa thu hoạch lúa. Đồng thời, cần hình thành mối liên doanh liên kết giữa nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và người nông dân để đảm bảo bao tiêu sản phẩm. Như vậy, nông dân có thể bán sản phẩm trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất, bớt khâu trung gian, khi đó, giá thành sản phẩm thức ăn chăn nuôi sẽ giảm.

Cần tính đến nguyên liệu thay thế

TS. Dương Duy Đồng (Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh) cho rằng không nên đặt vấn đề quá cụ thể là tìm kiếm một nguyên liệu nào đó để thay cho một hoặc một vài nguyên liệu nhất định.

Để giảm bớt lượng ngô, lúa mỳ nhập khẩu, theo TS. Dương Duy Đồng, nên tìm các giải pháp sao cho tổng nhu cầu về hạt ngũ cốc giảm bớt, thông qua các giải pháp tăng khả năng tiêu hóa của nguyên liệu, tăng khả năng tính toán sử dụng hợp lý các nguyên liệu từ nhà máy thức ăn chăn nuôi hoặc tăng sản lượng hữu dụng các nguyên liệu cung cấp năng lượng sẵn có trong nước như sắn, mỡ cá… Chẳng hạn, với nguyên liệu sắn, bã sắn có giá trị năng lượng khá cao, cần có những nghiên cứu để đề xuất giải pháp tăng tỷ lệ nguyên liệu này trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi lên 25 – 40% thay vì chỉ 10 – 20% như hiện nay. Đồng thời, cần có dự báo mức độ sản xuất và tiêu thụ sắn để có giải pháp bình ổn sản lượng và giá cả, tránh sự tăng giá đột biến rồi sau đó lại giảm mạnh làm suy giảm diện tích trồng sắn trong cả nước.

Nếu đặt mục tiêu là giảm bớt nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, nên có nhiều “động tác” kèm theo. Trước tiên là khảo sát tiềm năng sản xuất của tất cả các nguyên liệu thức ăn như: lúa gạo và các phụ phẩm (cám, tấm), ngô, sắn, các phụ phẩm của công nghệ sản xuất thực phẩm như bã rượu, bã đậu tương, bã ngô… Không chỉ khảo sát về diện tích, năng suất, sản lượng mà cần có các thông số để dự đoán khả năng trong tương lai chừng 5 – 10 năm tới của các nguồn nguyên liệu đó.

Theo đại diện một công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi, thị trường luôn biến động nên việc tìm kiếm các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thay thế nguyên liệu nhập khẩu vẫn còn tiếp diễn. Vấn đề là không phụ thuộc vào một hoặc hai nguyên liệu mà phải tiếp tục đầu tư công nghệ nhằm sử dụng được nhiều nguyên liệu mới trong sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Mạnh Minh

Nguồn:

http://baotintuc.vn/128N20121024084853971T0/nguyen-lieu-thuc-an-chan-nuoi-bai-1-nhu-cau-lon-le-thuoc-nhieu.htm

http://baotintuc.vn/128N20121025082908177T0/nguyen-lieu-thuc-an-chan-nuoi-bai-2-khong-nen-qua-lo-ngai-ve-viec-nhap-nguyen-lieu.htm

http://baotintuc.vn/145N20121026012507711T128/nguyen-lieu-thuc-an-chan-nuoi-bai-cuoi-huong-dan-den-tu-chu.htm