Ngán chăn nuôi (10/10/2012)

Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), từ 1991-2010 có 478 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực nông nghiệp, với tổng số vốn hơn 3 tỷ USD. Chỉ tính riêng trong năm 2011 đăng ký đầu tư vào lĩnh vực này là 16 dự án với tổng số vốn là 98,06 triệu USD. Tuy vậy, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, rủi ro làm cho các nhà đầu tư còn e ngại đưa vốn vào Việt Nam, nhất là lĩnh vực chăn nuôi.

Chăn nuôi có nhiều rủi ro

Tại “Hội nghị xúc tiến đầu tư ngành chăn nuôi 2012” do Cục Chăn nuôi phối hợp với Vụ Kế hoạch (Bộ NN&PTNT) tổ chức ngày 9-10 tại TP.Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Xuân Dương-Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho rằng, hoạt động sản xuất, kinh doanh chăn nuôi chứa đựng nhiều rủi ro do dịch bệnh vật nuôi, đặc biệt là những bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn như PRRS, cúm gia cầm, lở mồm long móng vẫn chưa được kiểm soát có hiệu quả gây lo ngại cho các nhà đầu tư. Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ và trình độ chuyên môn hoá của lực lượng lao động và quản lý về chăn nuôi, giết mổ và chế biến sản phẩm chăn nuôi còn thấp. Việc quản lý môi trường từ các hoạt động chăn nuôi, giết mổ và chế biến sản phẩm chăn nuôi đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, công nghệ hiện đại nên làm gia tăng đầu tư sản xuất/đơn vị sản phẩm, dẫn đến giảm sức cạnh tranh và hiệu quả của sản phẩm.

Chăn nuôi ở Việt Nam về cơ bản vẫn là chăn nuôi nhỏ và phân tán. Thống kê năm 2011, nước ta vẫn còn tới trên 6,5 triệu hộ chăn nuôi; số lượng trại chăn nuôi là 6.202; tỷ trọng chăn nuôi gia cầm nông hộ chiếm khoảng 70% về đầu con và 60% về sản phẩm thịt; tỷ trọng chăn nuôi lợn nông hộ chiếm khoảng 65% về đầu con và 57% về sản phẩm thịt.

Hệ thống giết mổ, chế biến ở nước ta còn yếu kém. Theo báo cáo của Cục Thú y về kết quả thực hiện Quy định việc kiểm tra đánh giá, phân loại cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm, thủy sản cho thấy: nước ta hiện có 29.281 cơ sở và điểm giết mổ, trong đó cơ sở giết mổ là 996 (chiếm 3,4%) và 28.285 điểm giết mổ (chiếm hơn 96 %); trong đó 7.931 cơ sở và điểm giết mổ được cơ quan thú y kiểm soát giết mổ; giết mổ tại các cơ sở, điểm giết mổ không đảm bảo vệ sinh ATTP vẫn chiếm tỷ trọng tới 60-70% tổng sản phẩm thịt bán ra trên thị trường. Tỷ trọng sản phẩm thịt được chế biến chiếm khoảng 1,5% tổng sản lượng thịt (30 doanh nghiệp chế biến thịt trên cả nước); khoảng 90% tổng sản lượng thịt được tiêu dùng là thịt tươi; và 43/63 tỉnh/thành đã thực hiện quy định (Thông tư 14). Các số liệu này là sự minh hoạ sinh động nhất về sự yếu kém đối với hiện trạng hệ thống giết mổ, chế biến thịt ở Việt Nam hiện nay.

Trong khi đó, Nhà nước chưa có định hướng rõ ràng, phù hợp để thu hút FDI vào ngành chăn nuôi. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến 2020 (năm 2008) nhưng sau gần 4 năm cả nước có 40/63 tỉnh/thành hoàn thành có đề án quy hoạch phát triển chăn nuôi; 30/40 tỉnh đã có đề án quy hoạch phát triển chăn nuôi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; 10/40 tỉnh đang chờ phê duyệt đề án; 13/63 tỉnh/thành chưa có đề án.

Giải quyết sớm những nghịch lý

Ông Hoàng Kim Giao – Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, muốn thu hút được đầu tư FDI vào Việt Nam chúng ta cần phải xây dựng một chính sách rõ ràng, tinh gọn; quy hoạch chi tiết từ quy mô nhỏ, sang lớn; quản lý tốt nhằm giảm giá thức ăn xuống bằng mức trung bình với khu vực (hiện nay giá cao hơn các nước  trong khu vực từ 10-15%). “Không thể để nghịch lý là một cường quốc xuất khẩu về nông sản nhưng giá thức ăn lại cao thuộc hàng top của thế giới được”- ông Giao nhấn mạnh. Cần xây dựng một tiêu chuẩn chăn nuôi thật nghiêm ngặt, có chính sách đặc thù cho ngành chăn nuôi, nhất là tập trung vào khâu giết, mổ, chế biến, xử lý môi trường. Đồng thời, cần tập trung vào đầu tư phát triển nguồn nhân lực, xây dựng được đội ngũ chuyên gia có chất lượng cao cho ngành chăn nuôi.

Đại diện của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) cho rằng, ngoài những biện pháp đã có, ngành chăn nuôi Việt Nam cần thực hiện theo mô hình mới là đầu tư theo hình thức đối tác công tư, có nghĩa là những thỏa thuận giữa lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân trong đó một phần dịch vụ hay công trình nào đó đáng lẽ ra thuộc trách nhiệm của khu vực công giờ được giao cho lĩnh vực tư nhân cung cấp với thỏa thuận rõ ràng như vậy ngành chăn nuôi Việt Nam mới có đủ nguồn lực để phát triển.

Theo phân tích của ông Nguyễn Xuân Dương, hình thức này sẽ phát huy hiệu quả được những kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả của khu vực tư nhân. Buộc khu vực công ngay từ đầu phải chú trọng đầu ra và lợi ích (thay vì các yếu tố đầu vào). Đưa vốn tư nhân vào và giúp giảm nhẹ gánh nặng về tài chính cho dự án. Những nhà cung cấp tư nhân có trách nhiệm hơn trong việc cung cấp dịch vụ trong môi trường khuyến khích thích hợp.

QUỐC ĐỊNH http://daidoanket.vn/PrintPreview.aspx?ID=56344