Là vùng đất có nhiều lợi thế để đưa ngành nuôi thủy cầm giữ vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, thế nhưng dù đã có bước phát triển mạnh về tổng đàn, song thực tế cho thấy việc chăn nuôi thủy cầm ở các tỉnh Nam Bộ vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro về tình hình dịch bệnh, đầu ra sản phẩm còn hạn chế.

Chưa xứng tiềm năng

Mô hình nuôi thủy cầm chạy đồng ở ĐBSCL đang có dấu hiệu giảm để chuyển sang chăn nuôi an toàn sinh học. Ảnh: T.B

Tiềm năng lớn
“Với những lợi thế về địa lý, khí hậu, Nam Bộ – nhất là ĐBSCL – có nhiều thuận lợi để chăn nuôi thủy cầm” – ông Nguyễn Thanh Sơn – Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NNPTNT) – phát biểu tại Hội nghị “Phát triển chăn nuôi thủy cầm bền vững tại các tỉnh Nam Bộ” do Cục Chăn nuôi tổ chức tại An Giang ngày 18.4. Theo ông Sơn, từ năm 2008 – 2011, đàn thủy cầm của cả nước tăng 109,21% (66,2 triệu con – 72,3 triệu con); đặc biệt tại các tỉnh ĐBSCL, từ năm 2006 đến nay, tốc độ tăng trưởng lên đến 145,07% (21,3 triệu con- 30,9 triệu con) và chiếm 41,3% tổng đàn thủy cầm cả nước. Theo ông Sơn, những năm gần đây chăn nuôi thủy cầm ở các tỉnh phía Nam – đặc biệt là ở các tỉnh ĐBSCL –  phát triển rất tốt, bình quân tăng đàn mỗi năm từ 9-10% (riêng năm 2011 tăng đến 14% so với năm 2010). Không chỉ có tiềm năng lớn, phương thức chăn nuôi trong những năm gần đây cũng có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ, từ chăn nuôi chạy đồng sang chăn nuôi theo qui mô trang trại, an toàn sinh học với tốc độ tăng gần 9%/năm (1.900 hộ năm 2010 lên trên 2.100 hộ năm 2011). Theo đó, các sản phẩm từ thủy cầm (trứng, lông vũ) ở ĐBSCL không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn xuất sang nhiều quốc gia trong khu vực như trứng vịt muối, lông vũ…

Hạn chế và nguy cơ
Tại hội nghị, các đại biểu thống nhất chính nạn “ăn theo” sự phát triển rất nhanh của đàn thủy cầm đã dồn đẩy ngành chăn nuôi giàu tiềm năng này vào thế khó, như: Chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ, các cơ sở ấp trứng thủ công và nằm lẫn trong các khu dân cư… Trong khi đó, công tác quản lý vẫn còn lỗi nhịp, chưa đáp ứng được nhu cầu trong vận chuyển đàn, quản lý ấp nở cũng như kiểm soát giết mổ, mua bán; đặc biệt là công tác phòng chống dịch bệnh… Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc “lưu tồn” mầm cúm gia cầm tại nhiều địa phương trong thời gian dài.

Việc tiêm phòng cúm gia cầm chưa thường xuyên, còn chạy theo đuôi diễn biến thực tế. Ảnh: T.B

Cụ thể, từ đầu năm đến nay, chỉ tại khu vực ĐBSCL có đến 6/13 tỉnh, thành có xảy ra cúm gia cầm với 983 con chết, 3.077 con bị tiêu hủy và có 2 người chết do nhiễm cúm A H5N1 tại Kiên Giang và Sóc Trăng. Ngoài ra, việc tiêu thụ các sản phẩm này vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế. Dù có tiềm năng đưa các sản phẩm gia cầm (trứng gia cầm, lông vũ…) xuất khẩu sang các nước, nhưng đến nay tình hình xuất khẩu sản phẩm này của Việt Nam vẫn ì ạch; thậm chí còn tiến… lùi.

Bà Trương Thị Kim Dung – Phó Giám đốc Cơ quan thú y vùng VII tại Cần Thơ – cho biết, nếu trong thập niên 90 của thế kỷ trước, có đến 3 DN ở An Giang, Cần Thơ và Vĩnh Long tham gia sản xuất và xuất khẩu trứng vịt muối sang Hồng Kông, Singapore thì hiện nay chỉ còn 2 DN và sản lượng xuất cũng khiêm tốn: 30-40 triệu quả/năm. Tại các thị trường châu Á mặt hàng này rất hút hàng, nhưng sản phẩm của Việt Nam vẫn khó chen chân do bị cạnh tranh rất mạnh từ các DN Trung Quốc, Đài Loan. Vì vậy theo các đại biểu, cần có biện pháp hữu hiệu đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm thủy cầm. Trước mắt ngành NNPTNT phải đánh giá lại tiềm năng, tổ chức lại phương thức chăn nuôi thông qua hình thức liên kết giữa DN và nông dân trước khi đề xuất và đón nhận chính sách hỗ trợ mở rộng thị trường, tạo đầu ra ổn định…, qua đó giúp thu nhập của người chăn nuôi vịt tại ĐBSCL tăng lên đúng với tiềm năng, thế mạnh.

Thanh Bách

Báo LĐ