Theo ven.vn

(VEN) – “Một sức khoẻ”. Đó là phương pháp tiếp cận toàn diện, tổng hợp giữa các quốc gia và khu vực để cùng nhau giải quyết những lỗ hổng trong hệ thống y tế và thú y nhằm giảm thiểu tác động của các bệnh truyền nhiễm có thể lây sang người, phòng ngừa khả năng xảy ra đại dịch có nguồn gốc từ động vật.

 

Đây cũng là chủ đề của Hội thảo: “Một sức khoẻ: Giải quyết các nguy cơ bệnh truyền nhiễm trong mối tương quan động vật – con người – môi trường” được tổ chức ngày 20/10 tại Hà Nội.
Sự xuất hiện của virus cúm A H5N1 và đại dịch H1N1 gần đầy là một phần của đại dịch quy mô lớn hơn làm gia tăng các chủng bệnh mới có nguy cơ tử vong cao. Trong số các chủng bệnh mới này, có đến ¾ các bệnh gây ra bởi mầm bệnh có nguồn gốc từ động vật hoang dã như bệnh SARS có nguồn gốc từ cầy hương ở Quảng Đông (Trung Quốc), HIV bắt nguồn từ loài linh trưởng ở Trung Phi…
“Một sức khoẻ” là thuật ngữ được Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã đưa ra lần đầu tiên vào năm 2004 nhằm phát triển các nguyên lý cho công tác ứng phó toàn cầu liên kết giữa sức khoẻ con người – động vật nuôi – động vật hoang dã.
Liên tiếp các năm 2007 – 2010, các hội nghị quốc tế cấp Bộ trưởng về cúm gia cầm và đại dịch (IMCAPI) đã thảo luận phương pháp tiếp cận “Một sức khoẻ” trong bối cảnh nguy cơ cúm đại dịch bùng phát trên toàn thế giới.
“Một sức khoẻ” là phương pháp tiếp cận tổng hợp toàn diện, đại diện cho nỗ lực hợp tác đa ngành để hiểu rõ mối liên hệ không thể tách rời giữa sức khoẻ con người, động vật và các hệ sinh thái
Thứ trưởng Bộ NNPTNT kiêm Phó Trưởng ban Chỉ đạo Quốc gia Phòng chống Cúm gia cầm, ông Diệp Kỉnh Tần cho biết: “Một sức khoẻ” giai đoạn 2010 – 2015 tại Việt Nam sẽ nhằm giải quyết các nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm trong mối tương quan động vật – con người – môi trường. Đa số các virus truyền nhiễm có tác động lớn gần đây đã lây nhiễm trên người như: H1N1, H5N1…Do đó các chiến lược quốc gia của Việt Nam cần phải phối hợp với khu vực và quốc tế để giải quyết những thách thức toàn cầu về “một sức khoẻ” thông qua hoạt động của toàn xã hội và cộng đồng.
Đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho biết, trong hướng tiếp cận “một sức khoẻ”, WB đã chuyển hướng từ hỗ trợ thú y (trước năm 2007) thông qua khắc phục hậu quả cúm gia cầm sang hướng giúp Việt Nam kiểm soát và chuẩn bị ứng phó với cúm gia cầm và cúm người ở Việt Nam (dự án VAHIP).
Theo thiết kế ban đầu, thời gian thực hiện VAHIP được thực hiện từ 2007 – 2010 tại 11 tỉnh của Việt Nam với các hợp phần chính như: Kiểm soát và xoá bỏ cúm gia cầm ở người trong ngành nông nghiệp; phòng chống cúm và chuẩn bị ứng phó đại dịch trong ngành y tế và phối hợp nhằm giám sát, đánh giá kết quả.
Theo thống kê của Cục Y tế Dự phòng – Bộ Y tế, tính từ tháng 12/2003 đến tháng 4/2010, cả nước đã có 6 đợt cúm A H5N1 “hoành hành” tại 40 tỉnh, thành Việt Nam với tổng cộng 119 trường hợp mắc, 59 người chết, thiệt hại vật chất nhiều tỷ đồng nhưng do chưa nhận thức đầy đủ về các bệnh truyền từ động vật sang người nên chưa có các biện pháp tích cực, mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, tỷ lệ động vật được tiêm vắc xin phòng bệnh thấp và chưa có cơ chế phối hợp cụ thể trong công tác chống dịch giữa cơ quan và y tế khi có dịch xảy ra…Vì vậy trong giai đoạn tới, Việt Nam cần phải tích cực giải quyết những lỗ hổng trong hệ thống y tế và thú y nhằm giảm thiểu tác động của các bệnh có nguồn gốc từ động vật có thể lây sang người; phòng ngừa khả năng xảy ra đại dịch có nguồn gốc từ động vật cũng như lồng ghép đầu tư và nâng cao năng lực trong các hệ thống quốc gia theo tiêu chuẩn của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) về chất lượng dịch vụ thú y.
TS Dennis Caroll, Giám đốc phụ trách các nguy cơ cúm gia cầm và các nguy cơ mới nổi khác thuộc USAID cho biết: Sự tấn công của dịch bệnh đang ngày càng tăng từ động vật hoang dã do dân số tăng kéo theo nhu cầu đạm từ động vật tăng.
Trong khi đó, ngay cả khi nguy cơ các bệnh có nguồn gốc từ động vật gia tăng thì sự bùng phát các bệnh dịch này diễn ra lẻ tẻ không theo quy luật, có thể xuất hiện vào những thời điểm, địa điểm không dự đoán trước được. Do vậy thách thức lớn nhất đối với việc phát hiện sớm các bệnh dịch chính là năng lực giám sát phù hợp để phát hiện các mầm bệnh.
Những tiến bộ mới đây nhằm hiểu rõ các nguyên nhân dẫn đến bùng phát các bệnh có nguồn gốc từ động vật đã góp phần xây dựng các mô hình phân tích rủi ro mới, có thể dự báo các bệnh, mở ra các cơ hội tập trung hơn nữa giám sát các bệnh mới nổi từ những khu vực địa lý, khu động vật, tác nhân vi sinh cụ thể và nhóm cư dân có rủi ro cao. Tuy nhiên một số mô hình vẫn chưa phát huy hiệu quả trong việc phát hiện sớm các bệnh lây nhiễm có nguồn gốc từ động vật, đặc biệt là khi các lây nhiễm mới này không có liên hệ chặt chẽ về thời gian với các biểu hiện lâm sàng trước đó.
Do đó, theo TS Dennis Caroll, việc phát hiện sớm đòi hỏi không chỉ tăng cường “giám sát triệu chứng” mà còn cần những mô hình giám sát hiện đại mới có thể khai thác những tiến bộ trong ngành công nghệ gen và công nghệ thông tin để xác định những nguy cơ trước khi chúng tiến triển hoàn toàn thành những bệnh truyền nhiễm mới đe doạ sức khoẻ cộng đồng.
TS Dennis Caroll cũng cho biết, thời gian tới, sẽ giúp Việt Nam tiếp cận chương trình các nguy cơ đại dịch mới nổi (EPT) thông qua kết nối các trường đại học của Mỹ và Việt Nam trong các lĩnh vực thú y, y tế công, chăm sóc và quản lý động vật hoang dã…nhằm cùng phát triển các dịch vụ trước và trong khi bùng phát dịch, tăng cường năng lực giảng dạy và phương pháp phát triển chuyên môn có trọng tâm…để có thể ứng phó với nguy cơ bùng phát dịch bệnh, gồm cả các dịch bệnh mới nổi được quan tâm ở phạm vi quốc tế./.
Tiến Dũng

 

Advertisements