Mard-12/10/2010): Hàng năm, UBND tỉnh Tiền Giang đều ban hành Chỉ thị ngắt vụ trong nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh nhầm cắt mầm bệnh trong nuôi tôm, cũng như có đủ thời gian để cải tạo ao nuôi. Tuy nhiên, thời gian qua, một số hộ nuôi tôm vẫn bất chấp quy định, lấy nước, thả giống khi thời gian ngắt vụ trên địa bàn tỉnh đã có hiệu lực. Thực tế, đã cho thấy, nuôi tôm trái vụ có thể bán được giá cao nhưng tỷ lệ thành công rất thấp và nếu thất bại sẽ “trắng tay”. Người nuôi tôm trái vụ như đang chơi một ván bài mà cơ hội chiến thắng rất mong manh.

Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn và căn cứ vào tình hình khí tượng thủy văn, tình hình dịch bệnh tôm hàng năm trên địa bàn tỉnh cho thấy, trong thời gian từ cuối tháng 8 đến giữa tháng 1 âm lịch năm sau, biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn, ngày nóng, đêm lạnh không thích hợp với điều kiện phát triển của tôm. Ngược lại, đây lại là điều kiện thích hợp cho mầm bệnh phát triển. Bên cạnh đó, đây còn là thời điểm thu hoạch và cải tạo những ao nuôi thả vào chính vụ, nên môi trường nước trên các sông, rạch thường bị ô nhiễm nặng và mầm bệnh luôn tồn tại ở mức khá cao. Do đó, bất cứ một sai sót nhỏ nào trong quá trình quản lý ao nuôi đều có thể dẫn đến dịch bệnh phát sinh và lây lan, gây thiệt hại đối với tôm nuôi. Quan trọng hơn là ảnh hưởng đến cả cộng động, vì khi dịch bệnh phát sinh, gặp điều kiện môi trường, thời tiết thuận lợi thì mầm bệnh sẽ phát triển mạnh, dẫn đến mầm bệnh sẽ lây lan cho các hộ nuôi khác và gây thiệt hại nặng cho những ao nuôi thả vào chính vụ.
Dựa vào các cơ sở trên, trong vụ nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng năm 2011, UBND tỉnh Tiền Giang đã ban hành thị số 23/CT-UBND ngày 27/8/2010 về việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh tôm sú, tôm thẻ chân trắng năm 2011 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Theo nội dung Chỉ thị, đối với các hộ nuôi tôm ven sông Gò Công thuộc các xã Bình Phú, Đồng Sơn – huyện Gò Công Tây; xã Bình Đông, Bình Xuân, Tân Trung, Long Chánh – Thị xã Gò Công; xã Tân Thạnh – huyện Tân Phú Đông, thời gian ngắt vụ từ ngày 01/10/2010 đến ngày 15/01/2011. Từ ngày 16/01/2011 đến ngày 15/02/2011, nếu các hộ nuôi tôm trong khu vực này muốn thả nuôi phải đăng ký với Ủy ban nhân dân xã để lập danh sách và báo cáo với Chi cục Thú y để được hướng dẫn việc kiểm dịch theo qui định và giám sát bệnh trong quá trình nuôi. Đối với các hộ nuôi tôm thuộc các xã còn lại, thời gian ngắt vụ từ ngày 01/10/2010 đến ngày 15/02/2011.
Về kết quả thất bại trong nuôi tôm thì có nhiều nguyên nhân, theo các chuyên gia thì nguyên nhân đầu tiên là chất lượng con giống, vì trong thời gian ngắt vụ thì đây cũng là thời điểm khí hậu không thuận lợi cho quá trình sản xuất giống. Do đó, chất lượng giống sản xuất ra khó đáp ứng cho nhu cầu nuôi thâm canh, bán thâm canh, nhất là thời điểm điều kiện thời tiết không thuận lợi. Nhưng nhiều người nuôi tôm vẫn bắt giống thả nuôi mà không quan tâm đến chất lượng, không qua kiểm dịch để loại bỏ những đàn tôm giống mang mầm bệnh nguy hiểm. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm dịch bệnh phát sinh nhiều vào thời điểm vụ nghịch.
Hoạt động xả thải nguồn nước trong ao và bơm bùn đáy ao trong nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh ra kênh rạch tự nhiên mà không xử lý đã làm cho hệ thống kênh rạch bị bồi lắng, môi trường nước tự nhiên bị ô nhiễm nghiêm trọng. Việc xả thải liên tục, không có thời gian gián đoạn đồng loạt để môi trường được phục hồi, mầm bệnh bị cắt và cứ như thế mùn bã hữu cơ sẽ tích lũy làm môi trường nước trở nên phú dưỡng. Đến thời điểm nào đó, môi trường sẽ bị suy thoái và nghề nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh vốn đã chịu nhiều rủi ro lại càng rủi ro hơn.
Tiếp theo, vấn đề rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả và sự bền vững của nghề nuôi thâm canh, bán thâm canh mà rất ít người nuôi chú trọng, đó là chất đất trong ao nuôi của mình. Đất thường xuyên ngập mặn sẽ làm thay đổi tính chất vật lý và hóa học của đất. Hàm lượng Natri có trong nước có độ mặn cao làm keo tụ, gắn kết đất thành cấu trúc cột làm đất rất chặt, khó thoát nước và dễ nứt nẻ sâu khi phơi khô. Do đó, khi phơi khô đất, oxy dễ xâm nhập sâu, làm oxy hóa tầng sinh phèn và gây chua đất khi có nước. Bên cạnh đó, hàm lượng natri quá cao sẽ chiếm nhiều dung lượng trong dung tích hấp thu của đất, đẩy các chất dinh dưỡng có lợi ra ngoài nên dễ bị rửa trôi, đó cũng là nguyên nhân gây nghèo kiệt dinh dưỡng của đất, từ đó làm giảm hiệu quả vụ nuôi. Thành phần chính của muối có trong nước mặn là ion Clo, ion Clo sẽ tồn tại trong đất và tích lũy dần theo thời gian dẫn đến sự suy thoái khó phục hồi của môi trường đất thường xuyên ngập mặn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho đất nuôi tôm liên tục nhiều năm sẽ không còn có hiệu quả nếu không có chế độ cải tạo hợp lý.
Và cuối cùng là một tồn tại cố hữu bao năm qua và có lẽ khó khắc phục, đó là  tình trạng cơ sở hạ tầng phục vụ cho các vùng nuôi tôm chưa hoàn chỉnh, hệ thống thủy lợi phục vụ trong nuôi tôm là hệ thống thủy lợi phục vụ cho canh tác nông nghiệp, nhiều khu nuôi tôm chưa có kênh cấp, kênh xả riêng biệt, thậm chí nhiều đoạn kênh bị bồi lắng, đáy kênh cao hơn đáy ao nuôi tôm. Điều này sẽ dẫn đến hậu quả là mầm bệnh vẫn lẫn quẩn trong khu nuôi tôm khi các ao tôm bị bệnh thải nước ra môi trường bên ngoài (khi công tác dập dịch chưa được triển khai triệt để tại các ao tôm), khả năng lấy vào nguồn nước mang mầm bệnh là rất cao.
Hiện nay, vẫn còn một số bà con chỉ nghĩ đến lợi nhuận trước mắt mà bỏ qua khuyến cáo của ngành nông nghiệp, yếu tố rủi ro và không nghĩ tới tính bền vững của nghề nuôi tôm nên đã nuôi tôm trái vụ và đã chuốc lây những thất bại nặng nề. Thực vậy, nuôi tôm trái vụ rất ít người thành công, đã để lại hậu quả khôn lường, chẳng những sẽ gây thiệt hại cho chính mình mà còn gây thiệt hại cho cả cộng đồng. Kết quả thống kê nhiều năm cho thấy, diện tích tôm bệnh trên diện tích nuôi tôm trái vụ hàng năm rất cao, trung bình khoảng 60-70%. Năm 2010, Tiền Giang có 94 hộ nuôi tôm trái vụ với tổng diện tích là 88,37 ha, kết quả chỉ có 32 hộ nuôi (34%) đạt kích cỡ thương phẩm nhưng hệ số thức ăn rất cao (trên 2,0 đối với tôm sú). Ngoài ra, hậu quả nghiêm trọng là môi trường tự nhiên ngày càng bị ô nhiễm nặng, nền đất ao nuôi sẽ bị suy thoái, khó phục hồi.
Như vậy, để nghề nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh phát triển một cách bền vững thì hơn ai hết, chính người nuôi phải thấy rõ trách nhiệm của mình, phải nghiêm túc thực hiện những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lý dịch bệnh và tuân thủ khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn về thời gian cắt vụ đồng loạt để môi trường tự nhiên và môi trường ao nuôi được phục hồi./.
Trí Quang
Advertisements